Phương pháp ương nuôi ấu trùng giống tôm thẻ chân trắng

a)  Chuẩn bị bể trong nuôi

Bể nuôi ấu trùng cần phải được chuẩn bị và làm sạch tối thiểu 24 giờ trước khi thả Nauplii. cấp nguồn nước sạch và lắp đặt hệ thống sục khí.

Nếu trại sản xuất hoạt động liên tục và kéo dài trên 3 tháng, cần thiết phải khử phun chlorine trênsàn, đường ống dẫn nước, dây sục khí và các dụng cụ sử dụng…ở nồng độ chlorine 20 – 30 ppm. Sau khi xử lý, khử trùng bằng chlorine cần phải để bể và dụng cụ đã xử lý nơi khô ráo, tránh ẩm ướt. Kích thước bể nuôi ấu trùng dao động tốt từ 4 – 5 m3 nước.

tôm thẻ chân trắng

tôm thẻ chân trắng

b) Chuẩn bị thức ăn

Thức ăn nuôi ấu trùng gồm nhiều loại phù hợp với từng giai đoạn ấu trùng khác nhau như tảo tươi, tảo khô, thức ăn tổng hợp, thức ăn chế biến, artemia.

Hiện nay trên thị có nhiều loại thức ăn tổng hợp dạng vi nang, được dùng bổ sung thay thế một phần hoặc thay thế toàn bộ thức ăn tươi tự nhiên như APO Frippak, No, Lansy và tảo khô. Tuy nhiên nên kết hợp thức ăn tự nhiên với thức ăn tổng hợp khô để nuôi ấu trùng thì hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn, chất lượng con giống tốt hơn. Tảo tươi là thành phần thức ăn bắt buộc trong giai đoạn Zoae 1 – Zoae 3 và được duy trì cho đến cuối giai đoạn Mysis.

c)  Chuẩn bị Naupiii

Sau khi tôm đẻ 36 – 40 giờ, thu gom Nauplii trong bể đẻ vào chậu/xô có thể tích nhỏ hơn, từ 30 – 50 lít nước. Siphon chất vẩn cặn ra khỏi chậu/xô đã thu gom Nauplii.

Định lượng số lượng Nauplii có trong chậu/xô thu gom để phân bố đến các bể nuôi ấu trùng theo đúng mật độ nuôi thích hợp.

Sự chuyển Nauplii từ bể cho đẻ sang bể nuôi ấu trùng cần kiểm tra sự chênh lệch về nhiệt độ và độ mặn nước ương nuôi. Nếu có sự chênh lệch lớn hơn l°c về nhiệt độ và 2% về độ mặn cần phải thuần hoá cho Naupli. Thời gian thuần dưỡng không nên vượt quá sự cân bằng ở l°C/30 phút hoặc l-2%o/30 phút.

Mật độ ương nuôi ấu trùng thích họp: 100 – 150 Nauplii/lít. Điều kiện môi trường nuôi: độ sâu nước0.8 – 1.0m, độ mặn 28 – 32%0, nhiệt độ 26 – 30°c, pH từ 8.2 – 8.6, duy trì sục khí liên tục.

d) Cho ấu trùng ăn và chăm sóc

Sau 36 – 38 giờ, Naupli chuyển sang giai đoạn Zoae. Có 3 giai đoạn phụ của Zoae: Zoae 1, Zoae 2 và Zoae 3. Thời gian chuyển giữa các giai đoạn phụ thường là 24 – 28 giờ, tày nhiệt độ nước nuôi, số lượng và chất lượng thức ăn và sức khỏe ấu trùng.

Kết thúc Zoae 3, ấu trùng chuyển sang giai đoạn Mysis. Có 3 giai đoạn phụ của Mysis: Mysis 1, Mysis 2 và Mysis 3. Thời gian chuyển giữa các giai đoạn phụ thường là 24-28 giờ, tùy nhiệt độ nước nuôi, số lượng và chất lượng thức ăn và sức khỏe ấutrùng. Mỗi giai đoạn phụ, nhu cầu sử dụng mật độ tảo cấp ở giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước.

Tỷ lệ thức ăn cung cấp cho mỗi giai đoạn phụ Zoae, Mysis như sau:

Giai đoạn Zoae: Thức ăn sử dụng là tảo sạch Chaetoceros/Skeletonema với mật độ tảo từ 4 – 20 vạn tb/ml, kết hợp với thức ăn tổng hợp (Lansy, Frippak…) ở lượng 0.4 – 0.6 g/m3. Cho ăn 8 lần/ngày. Giai đoạn này không cần thay nước.

Giai đoạn Mysis: Thức ăn sử dụng là tảo sạch Chaetoceros hoặc Skeletonema với mật độ tảo từ 1 – 5 vạn tb/ml, kết hợp với thức ăn tổng hợp (Lansy, Frippak…) ở lượng 0.6 – 0.8 g/m3 và Naupli của Artemia. Cho ăn 8 lần/ngày, Giai đoạn này siphone thay nước 2 ngày/lấn, khối lượng nước thay từ 20 – 30%/lần.

Sau giai đoạn Mysis 3, ấu trùng chuyển sang giai đoạn Postlarvae. Mỗi ngày nuôi Postlarvae được tính là 1 tuổi Post. Thức ăn giai đoạn Postlarvae sử dụng là Naupli của Artemia kết hợp với thức ăn tổng hợp (Lansy, Frippak…) ở lượng 0.6 – 1.2 g/m3. Cho ăn 8 lần/ngày, Giai đoạn này siphone thay nước 2 ngày/lần, khối lượng nước thay từ 30 – 50%/lần.

e)  Thu hoạch và vận chuyển Postlarvae

*   Thu hoạch

Rút cạn nước trong bể nuôi, dùng vợt vớt Postlarvae ra thùng, chạu. Tiến hành định lượng Postlarvae, bằng cách đong mẫu hoặc đếm so màu mẫu để tính số lượng Postlarvae xuất cho người nuôi, đồng thời tính được kết quả sản xuất và tỷ lệ sống cho từng đợt sản xuất giống, hạch toán lỗ, lai.

*   Vận chuyển Postlaevae

Đóng tôm vào túi nilon có nước và oxy. Mật đô tôm trọng bao tùy thuộc vào quãng đường và thời gian vận chuyển. Mật độ vận chuyển thông thường từ 1.000-2.000PL/ lít (thời gian vận chuyển trên 10 giờ) và 2.000-3.000PL/lít (thời gian vận chuyển dưới 10 giờ), giữ nhiệt độ trong bao khoảng 25°c có tác dụng làm tôm ít hoạt động giảm lượng tiêu hao oxy, không ăn thịt lẫn nhau, giảm được sự hao hụt trong quá trình vận chuyển.

Comments

comments