Theo nhiều tài liệu cổ xưa còn lưu lại thì loài động vật — lưỡng cư đã có mặt trên hành tinh này khoảng 280 triệu năm. Và hiện trên thế giới có đến 4000 loài, riêng ếch chiếm đến phân nửa, tức 2000 loài, chia đều ra khắp các châu lục.

Nhưng, không phải cả 2000 loài ếch hiện có, bất cứ loài nào cũng làm thực phẩm nuôi sống con người được. Có nhiều loài ếch cực độc, do chất mủ tiết ra từ da chúng, do những độc tố tiềm ẩn trong nội tạng chúng, như loài ếch màu Dendrobate sống nhiều ở vùng Nam Mỹ chẳng hạn, chỉ cần ăn phải chúng là dễ bị mất mạng.

Ếch giống thái lan

Ếch giống thái lan

Đa số các nước ngày nay đều chọn các giống ếch thuộc họ Ranidae, còn gọi là Rana để nuôi thịt. Ếch thuộc họ này có chất lượng thịt ngon, được thị trường khắp noi ưa chuộng. Ếch họ Rana có khoảng 10 loại.

Hiện nay, ba loài ếch thuộc họ Rana sau đây được chọn nuôi làm giống ở nhiều nước:

-    Rana Catesbeina (có sách viết là Catesbeiana) tức “ếch bò” ở Bắc Mỹ.

-    Rana Riddibunda tức ếch xanh, ở vùng Địa Trung Hải.

-    Rana Esculanta, giống ếch lai, được lai tạo từ ếch Rana Ridibunda và Rana Lessonae, hiện được nuôi nhiều ở Ai Cập.

Được biết hơn 300 tấn thịt ếch mà Ai Cập xuất khẩu hằng năm ra thị trường thế giới chủ yếu là loài ếch lai Esculanta này.

Còn Ấn Độ ngoài việc nuôi “ếch bò” (Rana Catesbeina), còn nuôi thêm ếch đồng (Rana Tigrina Rugcloss) để lấy đùi ếch xuất khẩu.

Tuy ếch có nhiều loài, chúng lại có khả năng sinh sản nhanh, nhưng điều mà mọi người dễ dàng nhận thấy và lấy làm lo là giống loài này đang có nguy cơ tuyệt chủng, do môi trường sống của chúng càng ngày càng bị xấu dần đi, mà tất cả đều do con người gây ra như:

-    Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần từng ngày do nạn bùng nổ dân số trên thế giới, nên nhu cầu lấy đất làm nhà ở cho con người cũng từ đó mà tăng lên.

-    Đã thế, hầu hết đất đai canh tác hoa màu, cây trái được tưới bón phân hóa học, và cây trồng được thường xuyên phun xịt thuốc bảo vệ thực vật gây độc hại môi trường sinh thái của ếch, cũng như các loài thủy tộc khác.

-    Ếch được đánh bắt bằng nhiều phương tiện, trong đó có nạn chích điện khiến ếch lán nhỏ gì cũng bị tiêu diệt hàng loạt. Tình trạng này không phải chỉ xảy ra tại nước ta hiện nay, mà ở hầu hết các nước trên thế giới.

Do môi trường sống của ếch càng ngày càng bị thu hẹp và lắm tai họa như vậy nên số lượng ếch trong tự nhiên từ lâu đã được nhiều nước báo động là bị giảm sút rất nhiều. Do hiếm nên thịt ếch càng ngày càng có giá khiến việc săn bắt trở nên ráo riết hơn. Đến nay, trữ lượng ếch có trong thiên nhiên chỉđáp ứng được phần nào nhu cầu của thị trường trong nước mà thôi. Vì vậy, cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề tưởng là nan giải này không gì tốt hẳn là chúng ta nên gấp rút bắt tay vào việc nuôi ếch công nghiệp.

Nghề này, nhiều nước trên thế giới đã mạnh dạn bắt tay nhập cuộc từ lâu, ít ra cũng từ khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc.

Ngay Thái Lan, nước láng giềng của ta, họ đã thu được món lợi lớn từ ngành nghề chăn nuôi ếch công nghiệp này khoảng 20 năm; họ đã có thị trường rộng khắp. Nhiều cơ sở chăn nuôi ếch công nghiệp của nhiều nước khu vực, trong đó có nước ta, cũng nhập con giống của họ về nuôi.

Theo tâm lý chung, khi đứng trước một công việc gì mới mẻ, dù biết có lợi, nhưng cũng có lắm người muốn nhập cuộc mà vẫn phân vẫn lo ngại. Với ếch cũng vậy, cũng có nhiều người lo “đầu ra” của con ếch, không biết còn gặp trở ngại nào không. Lo xa cũng là đức tính tốt, vì một khi đã dốc vốn liếng ra làm ăn thì bất cứ ai cũng phải cân nhắc, tính toán mọi điều hay lẽ thiệt. Vì đầu tư tiền của vào việc chăn nuôi cũng đâu có khác chi đầu tư vào chuyện mua bán trên thương trường: mình tính toán một đường, nhưng cạnh đó biết đâu lại không có những sự xui rủi rình rập.

Có điều, theo gưong của các nước đi trước, đầu tư tiền của và công sức vào việc nuôi ếch chắc cũng không lắm nỗi phải âu lo, vì như mọi người đều biết, khắp thế giới loại thịt đặc sản này đang bị thiếu hụt trầm trọng, trong khi nhu cầu tiêu thụ lại càng ngày càng tăng.

Được biết, tại nhiều nước Âu – Mỹ, nhu cầu nhập ếch sống và đùi ếch đông lạnh mỗi năm cứ tăng dần, năm sau tăng hơn năm trước đến mức hơn 15%. Mặc dù qua báo chí chúng ta cũng biết số ếch hoang dã tại Mỹ bị bắt hằng năm lên đến hàngtrăm triệu con. Tại Ấn Độ, con số đó tăng lên gấp rưỡi, nhưng so với nhu cầu đòi hỏi thì số lượng ếch đồng săn bắt được đó đâu có thấm tháp gì.

Về thị trường trong nước, càng ngày thịt ếch càng được tiêu thụ nhiều hơn. Hiện nay hàng quán lớn nhỏ khắp nơi được mở ra nhiều, nhưng những món đặc sản từ thịt ếch mà thực khách ưa chuộng lại không đủ, do đó mức cung và cầu còn chênh lệch khá xa.

Còn về thị trường xuất khẩu, ngoài thí dụ mà chúng tôi vừa nêu ra là tại nước Pháp vào năm 2000 vừa qua, họ nhập vào hơn 7500 tấn đùi ếch đông lạnh, và 1000 tấn ếch sống. Các nước châu Âu, châu Mỹ cũng đã và đang cần nhập một số lượng lớn thịt ếch, đa phần là đùi ếch đông lạnh. Được biết, giá đùi ếch đông lạnh trung bình 10USD/kg, còn ếch sống có giá 2,5USD/kg, đó là giá của mấy năm trước, khi lượng thịt ếch bên ngoài còn dồi dào.

Các nước xuất khẩu thịt ếch vào các thị trường rộng lớn này, thuộc diện làm ăn lâu năm nhất có lẽ phải kể đến Ai Cập. Mỗi năm, Ai Cập xuất khẩu đều đều hơn 300 tấn thịt ếch. Ai Cập nhờ có khí hậu thuận lợi với việc nuôi ếch nên có khả năng cung cấp mặt hàng này quanh năm cho thị trường tiêu thụ thế giới.

Ngoài Ai Cập ra, phải kể đến Ấn Độ. Ấn Độ mỗi năm cũng xuất khẩu được gần 4 ngàn tấn đùi ếch. Tại Ấn Độ có nhiều cơ sở nuôi ếch công nghiệp qui mô và rộng lớn. Có trại nuôi ếch rộng đến cả ngàn hécta. Brazil hằng năm cũng xuất khẩu được 500 tấn thịt ếch. Còn Nhật Bản cũng xuất khẩu được đến 600 tấn thịt ếch đóng hộp hằng năm.

Đó là chưa kể các nước khác như Cuba, Nam Tư (cũ), Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan… những nước đã và đangkhông ngừng phát triển thêm nhiều trại nuôi ếch công nghiệp với quy mô lớn, và đã có nhiều thị trường tiêu thụ ở vùng Bắc Mỹ và châu Âu.

Được biết, ngoài việc nhật, vào ếch thưong phẩm và đùi ếch đông lạnh, châu Âu hằng năm còn nhập thêm 10 tấn ếch còn sống nhằm cung cấp cho các phòng thí nghiệm để nghiên cứu về phôi học (Embryologie), nội tiết học (Endicrinologie), hormone tình dục.

Tất nhiên, điều mà ai cũng biết, giá ếch còn sống cung cấp cho các phòng thí nghiệm có giá cao hơn loại ếch sống làm thực phẩm.

Và, như quí vị đã biết, lợi ích của việc nuôi ếch không phải chỉ có từ việc bán ếch con làm giống, bán ếch thịt, mà còn có cả da ếch, một mặt hàng xuất khẩu đáng giá nữa.

Ngoài ra, còn phải tính đến những phụ phế phẩm lấy ra từ lò giết mổ ếch, có thể chế biến làm thức ăn cho gia súc, hoặc làm phân bón.

Riêng da ếch sau khi thuộc và nhuộm màu xong, dùng làm ví da, găng tay, giày dép và nhiều sản phẩm mỹ nghệ có giá trị cao, không thua kém giá của da đà điểu, cá sấu…

Người lột da ếch bằng tay hay bằng máy. Hình thù con ếch tuy nhỏ nhưng tấm da lột ra cũng khá rộng. Với ếch thịt cỡ vừa 200gr/con có tấm da khoảng 15cm, giá bán khoảng 4USD. Tấm da càng lớn càng được ưa chuộng hơn.

Tóm lại, ếch là loài động vật lưỡng cư có giá trị kinh tế cao, và hiện có thị trường tiêu thụ rộng, cả trong và ngoài nước. Tuy được xem là một thứ thực phẩm thông dụng như thịt heo, thịt bò, thịt gà vịt… nhưng hiện nay thịt ếch cũng được coi là thứ đặc sản quí hiếm, do có tỷ lệ đạm cao, và có hương vị thơm ngon, đặc biệt ăn nhiều không ngán. Trongtương lai gần, nếu được nuôi nhiều, thịt ếch sẽ trở thành một loại thực phẩm cần thiết cho con người, và là thứ thịt thông dụng khắp thế giới.

Điều này cũng có nghĩa triển vọng của nghề nuôi ếch công nghiệp sẽ rất tốt đẹp về lâu, về dài. Đây là ngành nghề chăn nuôi tuy mói mẻ nhưng quan trọng, đem lại nguồn lợi lớn cho nhà nông chúng ta.

♥♥♥ ⇒⇒ Nếu bạn cần sách KỸ THUẬT NUÔI ẾCH GIỐNG  để vững tin hơn trên con đường chăn nuôi ếch của mình thì ấn tải về ngay bên dưới nhé, chúc bạn sớm thành công trên con đường mình đã chọn.

NUT_DOW

Comments

comments