Cá chép phân bố rất rộng, có gần khắp ở các nước trên thế giới. Cá chép có nhiều loài như chép vảy, chép kính, chép trăn, chép gù, chép đỏ.

Loài nuôi phổ biến ở nước ta là chép vảy – còn gọi là chép trắng. Từ năm 1972 đến nay, nước ta đã nhập thêm các loại cá chép kính, chép trần, chép vảy từ các nước Hunggari, Indonexia, Pháp… cho lai tạo với cá chép Việt Nam.

ao cá chép

Đặc điểm sinh học của cá chép

Cá chép thường sống ở tầng đáy và giữa, trong các loại mặt nước ao hồ, đầm, sông, ruộng. Cá có khả năng chịu đựng ngưỡng oxy thấp hơn cá mè trắng.

Cá chép ăn động vật đáy là chính như giun, ấu trùng, côn trùng, nhuyễn thể, giáp xác… ngoài ra cá còn ăn thêm hạt củ, mầm thực vật. Nuôi trong ao cá ăn tạp. Ở giai đoạn cá bột, cá ăn động vật phù du như các loài cá khác. Cá từ 8cm trở lên ăn như cá trưởng thành.

Cá chép lai (Việt X Hung) có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn cá chép trắng Việt Nam. Cá chép lai F, một tuổi nặng 0,5 – 1 kg.

Cá chép thành thục sinh dục sau một năm. Cá đẻ tự nhiên trong ao hồ, đầm, sông, ruộng. Nhiệt độ đẻ trứng thích hợp từ 20 – 22°C. Cá đẻ trứng dính bám vào rong, bèo cỏ trong nước. Cá chép thường đẻ tập trung vào hai vụ chính: vụ Xuân từ tháng 2-4 và vụ Thu từ tháng 8 – 9.

Comments

comments