Nhóm thỏ ở Việt Nam được du nhập từ Pháp vào khoảng từ 70 – 80 năm trước đây. Chúng đã được lai tạo giữa nhiều giống khác nhau, nên đã có nhiều ngoại hình và tầm vóc khác nhau, phần lớn có màu lông ngắn, màu đen, trắng mốc, khoang trắng đen, trắng vàng, trắng xám có thể trọng khoảng 2 kg, Người ta thường gọi tên theo màu sắc lông như thỏ Dé thì nhỏ con, nhẹ cân, có trọng lượng 2,2-2,5kg. Nhìn chung nhóm thỏ này có màu lông khoang, lang hay đốm, trắng, vàng đen, xám riêng màu lông ở phần dưới bụng, ngực, đuôi có màu xám nhạt hơn hoặc màu xám trắng. Màu mắt đen, đầu nhỏ lưng khum trọng lượng trưởng thành 2,5-3kg; và thỏ đen có lông ngắn, có màu đen tuyền, màu mắt đen, đầu to vừa, miệng nhỏ bụng thon, bốn chân dài thô, xương thô. Trọng lượng trưởng thành 2,6-3,2kg. Một vài nơi có các giống thỏ lông xù màu trắng do có màu của giống Angora.

thỏ trắng

Đặc điểm sinh sản của hai giống thỏ màu xám và màu đen của Việt Nam có khác so với thỏ mới nhập nội và thỏ lai thương phẩm khác. Chúng vẫn còn bảo tồn tính năng sản xuất của thỏ rừng xa xưa như động dục sớm 4,5 – 5 tháng tuổi, mắn đẻ sau khi đẻ từ 1 đến 3 ngày đã chịu đực phối giống lại, thỏ vừa tiết sữa vừa nuôi con và có chữa nên nếu gia đình có điều kiện tốt thì thỏ sẽ đẻ liên tục, mỗi năm từ 7 đến 8 lứa và giao động từ 4 – 11con/ lứa. Một trong những tập tính của thỏ là nhổ lông làm ổ đẻ, đối với tập tính này thỏ đen và xám của Việt Nam thể hiện rõ hơn so với thỏ nhập nội. Các thỏ trước khi đẻ thường tự lấy rác, rơm cỏ vào trong ổ và tự nhổ nhiều lông bụng lông ngực để trộn thành tổ ấm mềm, để đẻ con trong đó, ít có trường hợp đẻ con ngoài ổ. Sức đề kháng tốt của thỏ Việt Nam và thỏ Lai được thể hiện rõ nét hơn thỏ nhập nội điều này thể hiện qua một số chỉ tiêu sinh lý.

Nhóm thỏ lai ở vùng ĐBSCL được lai tạo từ các giống thỏ ngoại nhập vào Việt Nam những năm 90 với thỏ lai địa phương, chúng có tầm vóc khá, màu sắc đa dạng pha trộn giữa các giống như New Zealand, Chinchilla, Californian, English Spot, v..v… Trong điều kiện nuôi dưỡng còn hạn chế về dinh dưỡng hiện nay với thức ăn thô xanh và bổ sung các loại phụ phẩm thỏ cái trưởng thành (đẻ lứa 3) đạt 3,2 – 3,8 kg. Thỏ thịt nuôi từ 4 – 4,5 tháng đạt 2,2 – 2,4 kg. Đây là nhóm thỏ được nuôi chủ yếu ở ĐBSCL cho thịt rất hiệu quả vì tận dụng được nguồn thức ăn rau cỏ địa phương.

Bảng 1. Các chỉ tiêu sinh lý thông thường của thỏ Việt Nam và thỏ New Zealand

Giống thỏ Thân nhiệt

(oC)

Nhịp thở (lần/phút) Hồng cầu (triệu/mm3) Bạch cầu (ngàn/mm3)
Xám 38.3-39.9 60-72 3.76 15.5
Đen - - 3.84 13.7
New Zealand 38.5-40.5 90-120 5.25 8.1

Ngoài ra còn một số giống thỏ khác có tiếng trong khu vực hay những châu lục khác như nhóm giống thỏ cho lông len Angora, American Sable, Britannia Petite,v..v. Tuy nhiên chúng chưa phổ biến ở nước ta.

Thỏ French Angora

Những đặc điểm giống và khả năng sản xuất của thỏ phụ thuộc vào môi trường sống và kinh nghiệm phát triển của nhà nhân giống. Sự so sánh những kết quả từ những môi trường và địa lý khác nhau có thể cho thấy những đặc tính chung của giống. Tính mắn đẻ, mức tăng trọng và sự phát triển các cơ quan, tổ chức của cơ thể ở thỏ tơ là 3 đặc tính cơ bản của giống.

a.  Tính đẻ sai con:

Được đo lường bằng số thỏ con sống hay tổng số thỏ sơ sinh. Số lượng con trong bầy tăng khoảng 10-20% từ lứa đầu tiên cho đến lứa thứ hai. Tuy nhiên sẽ không có sự khác biệt từ lứa thứ ba đến lứa thứ tư và từ lứa thứ tư trở đi thì số lượng thỏ sơ sinh trong bầy sẽ giảm. Sự đồng huyết trong nhân giống cũng sẽ làm giảm tính đẻ sai con. Nó còn phụ thuộc vào mùa và năng suất sinh sản của thỏ cái. Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến sự đẻ sai là số trứng rụng và sau đó là khả năng sống của phôi. Giống thỏ khác nhau cũng cho năng suất sinh sản khác nhau.

Ví dụ:

  Caliornian New Zealand White
Số con sống trong ổ 7,04 7,23
Số con cai sữa trong ổ 5.46 5,72

b.Tăng trọng và thành phần cơ thể:

Mức độ tăng trọng của thỏ tơ thì tương quan chặt chẻ với tầm vóc và trọng lượng trưởng thành của chúng trong trường hợp không có sự khiếm khuyết dưỡng chất trong khẩu phần đáng ghi nhận. Sự biến động và thành phần cơ thể thì lớn ở các giống thỏ được nuôi, ví dụ giống thỏ New Zealand White và Himalyan. Tăng trọng và mức độ tăng trưởng của những tổ chức chính phụ thuộc vào đặc điểm sinh học của giống và sự nuôi dưỡng. Do vậy chỉ tiêu mô tả về giống trong một môi trường sản xuất nhất định nên là tuổi trưởng thành. Những giống được chú ý trên quan điểm sản xuất là tỉ lệ tốt nhất giữa tăng trọng và trọng lượng trưởng thành mà nó đến sớm ở một trọng lượng sống thích hợp cho thị trường. Những giống nhẹ cân có thể được tận dụng như là những giống thuần hay tốt hơn là lai với những giống có trọng lượng trung bình để sản xuất ra quầy thịt có sự phát triển cơ tốt và thịt có chất lượng có nhu cầu tiêu thụ.

c.  Sự di truyền về đặc điểm giống

Sự cải thiện di truyền về đặc điểm giống thích hợp cho môi trường sản xuất phụ thuộc vào tính biến động di truyền đặc trưng mà nó bộc lộ ra môi trường. Tính biến động là sự bộc lộ về những khác biệt di truyền mà trong chọn lọc và nhân giống cố gắng để khám phá chúng. Câu hỏi đặt ra ở đây là làm sau có thể khám phá ra tính biến động di truyền trong sản xuất qui mô nhỏ. Nâng cao tiềm năng của giống phụ thuộc vào đặc tính sinh học, ưu thế của sự sinh sản và sự tính toán các thông số di truyền cho sự chọn lọc.

d.  Gen và môi trường sống

Hầu hết những đặc tính di truyền số lượng như thụ tinh, sức sống, tăng trưởng thì được quyết định bởi nhiều gen và chúng cũng bị chi phối bởi môi trường sống. Kiểu hình là kết quả của ảnh hưởng kiểu gen kết hợp với môi trường. Kiểu gen là kết quả của ảnh hưởng gen ở vài vị trí của nó (locus). Môi trường bao gồm khí hậu, chỗ ở, tiểu khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, tốc độ gió dụng cụ trang thiết bị, kỹ thuật phối giống và nuôi dưỡng và kinh nghiệm của nhà nhân giống. Xác định di truyền của sự biến động của các tính trạng là sự có lợi song hành của nhà chọn lọc và người làm công tác giống. Đầu tiên là sự khám phá biến động di truyền của thỏ cùng giống và cùng quần thể; kế đến bằng sự lai giống để khám phá tính biến động di truyền giữa giống và các quần thể.

e.  Sự lai giống ở các nước nhiệt đới

Những nền tảng sinh học tạo ra những con lai ưu trội về các tính trạng. Chúng nên được khám phá trong những quần thể được nhân giống trong môi trường khác nhau. Những nghiên cứu ở qui mô lớn trên những giống lai ở các nước nhiệt đới từ Cuba (ẩm) và Mexico (khô) đã được tường trình. Những nghiên cứu này thực hiện trên những giống thỏ nhập nội. Sự sản xuất sữa được cải thiện bằng sự sử dụng con lai tốt nhất. Kết quả đã được cho thấy tầm quan trọng của các giống thuầngiống lai sẳn sàng cho quá trình nghiên cứu thí nghiệm.

Comments

comments