6.  Sự tiêu hóa của thỏ

a.  Cơ thể học hệ tiêu hoá

Ở thỏ trưởng thành (4-4,5kg hay 2,5-3kg) chiều dài hệ tiêu hoá có thể 4,5-5,0m. Sau ống thực quản ngắn là dạ dày đơn của thỏ chứa khoảng 60-80g thức ăn. Ruột non dài khoảng 3m và có đường kính 1cm. Cuối ruột non là tiếp giáp với manh tràng bộ phận tích trữ và tiêu hoá thức ăn này có chiều dài khoảng 40-45cm với đường kính 3-4cm. Nó chứa được 100-120g một hỗn hợp chất chứa đồng nhất với tỉ lệ chất khô khoảng 20%. Kế đến là ruột già với chiều dài khoảng 1,5m. Hệ tiêu hoá của thỏ phát triển rất nhanh trong giai đoạn thỏ đang tăng trưởng. Hai tuyến chính tiết vào ruột non là gan và tụy tạng. Dịch mật thỏ chứa nhiều chất hữu cơ nhưng không có enzyme. Dịch tụy chứa những enzyme tiêu hoá protein (trypsin, chymotrypsin), tinh bột (amylase), và mỡ (lipase).

nuôi thỏ

b.  Sinh lý tiêu hóa

Thức ăn nhanh chóng đi vào dạ dày, đây là môi trường acid và thức ăn lưu lại khoảng 3 – 6giờ và có những thay đổi nhỏ về mặt hoá học. Bằng những sự co thắt mạnh chất chứa trong dạ dày được đẩy vào ruột non. Đầu tiên chất chứa sẽ được hoà tan với dịch mật và sau đó là dịch tụy. Sau tác động của enzyme các nguyên tố nhỏ được giải phóng ra và được hấp thu qua thành ruột non. Những mảnh thức ăn chưa được tiêu hoá có thể lưu ở ruột non khoảng 1 giờ 30 phút. Sau đó chúng được đi vào manh tràng và có thể lưu lại ở đó 2 – 12giờ và sẽ được tiêu hoá bởi các enzyme của vi sinh vật. Chủ yếu là các thức ăn xơ được tiêu hoá tại đây và tạo ra các acid béo bay hơi, để rồi chúng được hấp thu qua vách của manh tràng vào máu cho sự sử dụng của cơ thể.

Phần chất chứa của manh tràng sau đó sẽ được đưa vào ruột già. Khoảng phân nửa còn lại được tiêu hoá và bao gồm cả vi sinh vật ở đây. Phần đầu của ruột già cò hai chức năng là tạo ra phân mềm và phân bình thường của thỏ. Sự tạo ra phân mềm là đặc điểm duy nhất có ở thỏ. Nếu chất chứa manh tràng đi đến ruột già vào buổi sáng sớm, nó sẽ trải qua ít thay đổi về sinh hoá học, để rồi các chất nhầy của ruột già tiết ra sẽ bao quanh các chất chứa này gọi là viên phân mềm. Còn nếu chất chứa manh tràng đi đến ruột già vào các thời gian khác nhau trong ngày thì những phản ứng hoá học của phần ruột già trước sẽ hoàn toàn khác. Trong trường hợp này sẽ tạo ra các viên phân cứng do ít nước. Các viên phân cứng sẽ được đẩy ra ngoài bình htường trong khi phân mềm sẽ được thỏ thu hồi trở lại bằng việc thỏ sẽ nút các viên phân này khi chúng ra khỏi hậu môn rồi thỏ sẽ nuốt mà không phải nhai lại gì cả (Ceacotrophy). Thỏ cũng có thể nhận biết phân mềm ngay khi chúng lọt ra rớt trên sàn lồng để ăn trở lại. Viên phân mềm có giá trị protein và vitamin cao hơn so với viên phân cứng. Liên quan đến vấn đề này, một số lượng thức ăn của thỏ sẽ được sử dụng trở lại từ 2-4 lần. Do vậy tuỳ theo loại thức ăn tiến trình tiêu hoá thức ăn của thỏ có thể từ 18 – 30 giờ, trung bình là 20 giờ.

Bảng 3. Thành phần dưỡng chất (% vật chất khô) của viên phân mềm và phân cứng của thỏ cho ăn 10 loại thức ăn.

Thành phần

Viên phân cứng

Viên phân mềm

Trung bình

Khoảng

Trung bình

Khoảng

Nước

41,7

34 – 52

72,9

63 – 82

Vật chất khô

58,3

8 – 66

27,1

18 – 37

Đạm thô

13,1

9 – 25

29,5

21 – 37

37,8

22 – 54

22,0

14 – 33

Béo

2,6

1,3 – 5,3

2,4

1 – 4,6

Khoáng

8,9

3,1 – 14,4

10,8

6 – 10,8

Dẫn xuất không đạm

37,7

28 – 49

35,1

29 – 43

Manh tràng lớn gấp 5 đến 6 lần dạ dày và nhu động của ruột yếu do đó thức ăn nghèo chất xơ hoặc chứa nhiều nước (thức ăn thô xanh, củ quả) dễ phân huỷ tạo thành các chất khí làm thỏ dễ chướng bụng đầy hơi, ỉa chảy. Thỏ ăn nhiều thức ăn thô xanh (rau, lá, cỏ) điều này phù hợp với yêu cầu sinh lý tiêu hoá, bảo đảm thường xuyên chất chứa trong dạ dày và manh tràng tránh được cảm giác đói và gây rối loạn tiêu hoá. Lượng nước trong cơ thể thỏ chiếm khoảng 60 – 90% thể trọng, nước rất cần thiết cho quá trình trao đổi chất, phát triển thai và sản xuất sữa. Vì vậy cần phải cung cấp nước uống đầy đủ cho thỏ.

7.  Sinh lý sinh sản của thỏ

a.  Cấu tạo cơ quan sinh dục

-    Cơ quan sinh dục đực

Cơ quan sinh dục thỏ đực có các phần chính như là các loài gia súc khác như dịch hoàn, ống dẫn tinh, các tuyến sinh dục và dương vật (hình 2a). Tuy nhiên thỏ có vài đặc điểm sau: có thể co rút dịch hoàn khi sợ hãi hay xung đột với các con đực khác và dịch hoàn hiện diện rõ khi thỏ đực được khoảng 2 tháng.

- Cơ quan sinh dục cái

Ở con cái, buồng trứng có dạng oval và không vượt quá 1 – 1,5cm, phía dưới buồng trứng (noãn sào) là ống dẫn trứng nối liền với 2 sừng tử cung độc lập 2 bên khoảng 7cm và thông với phần trên âm đạo bằng cổ tử cung (hình 2b). Toàn bộ bộ phận sinh dục được đỡ bởi những sợi dây chằng lớn đính vào 4 điểm dưới cột sống.

b.  Hoạt động sinh lý sinh dục của thỏ

-    Thỏ đực: Tuyến sinh dục phát tiển nhanh chóng bắt đầu từ 5 tuần tuổi, tuy nhiên sự sản xuất tinh trùng bắt đầu khoảng 40 – 50 ngày tuổi. Ống dẫn tinh sẽ hoạt động khoảng 80 ngày tuổi. Tinh trùng được phóng ra hiện diện lần đầu khoảng 110 ngày, nhưng chúng trong thời gian này rất yếu, sức sống kém. Sự trưởng thành sinh dục của thỏ Newzealand khoảng 32 tuần tuổi trong điều kiện ôn đới, dù vậy những thỏ đực trẻ có thể sử dụng cho sự phối giống sinh sản khoảng 20 tuần.

Trong thực tế sự bộc lộ những tập tính phối giống của thỏ là khoảng 60 -70 ngày tuổi khi thỏ có biểu hiện đầu tiên nhảy cởi trên những thỏ khác. Thời gian có thể cho thỏ đực nhảy cái lần đầu nên là 135 – 140 ngày tuổi. Lượng tinh dịch của thỏ là 0.3 – 0.6ml trong một lần phóng tinh. Mật độ khoảng 150 – 500 x 108 tinh trùng/ml. Lượng tinh trùng sản xuất ra tối đa khi sử dụng thỏ đực nhảy cái 1 lần trong ngày. Nếu sử dụng thỏ đực 2 lần trong ngày thì mật độ tinh trùng giảm đi phân nửa. Tuy nhiên trong thực tế thỏ đực được sử dụng 2 lần/ngày, hay 3 – 4 lần/tuần mật độ tinh trùng đủ để gây thụ thai. Nếu sử dụng đực phối nhiều lần trong ngày, trong tuần quá mức nói trên có thể ảnh huởng kém đến sự thụ thai.

- Thỏ cái: nang noãn xuất hiện lần đầu khoảng 65 – 70 ngày. Thỏ cái có thể phối giống 10 – 12 tuần tuy nhiên trong lúc này thỏ chưa có sự rụng trứng. Những biểu hiện phái tính của thỏ giống nhỏ con và thỏ trung bình (4 – 6 tháng) thì sớm hơn thỏ giống lớn con (5- 8 tháng). Ở Châu Âu thỏ cái được phối khoảng 120 – 130 ngày thì cho thành tích rất tốt. Sự phát triển cơ thể thỏ cái liên hệ thuận với sự thành thục của thỏ. Những thỏ cái tơ nếu cho ăn đầy đủ thì có thể dậy thì sớm hơn thỏ nuôi trong điều kiện chỉ nhận 75% với khẩu phần tương đương khoảng 3 tuần lễ, và như thế sự phát triển cơ thể sẽ chậm đi 3 tuần. Thỏ bắt đầu thành thục tính dục khi đạt thể trọng khoảng 75% trọng lượng trưởng thành. Điều chú ý là thỏ cái tơ chấp nhận cho thỏ đực nhảy trước khi có khả năng rụng trứng.

Ở thỏ cái thì không có chu kỳ lên giống đều đều, cũng như không có sự rụng trứng đồng thời trong thời gian lên giống như các loài gia súc khác (Lebas et al., 1986). Khác với những gia súc khác, ở thỏ nhờ có xung động hưng phấn, khi giao phối mới xảy ra rụng trứng. Sau khi phối 10 – 12 giờ các túi trứng mới bắt đầu phá vở, trứng qua loa kèn vào ống dẫn trứng và đến vị trí thụ tinh. Thời gian cần thiết để trứng di chuyển gặp tinh trùng từ khi rụng là 4 giờ, trên cơ sở đó người ta đã áp dụng phương pháp bổ sung phối lại lần thứ 2 sau lần thứ nhất 6 giờ, nhằm tăng thêm số trứng thụ tinh và đẻ nhiều con. Biểu hiện âm hộ có màu đỏ có thể xem như là biểu hiện lên giống, thời điểm này thỏ cái chấp nhận cho thỏ đực nhảy và tỉ lệ mang thai lên đến 90%. Sau khi thỏ cái động dục sau 2 – 3 ngày, thỏ có bản năng nhặt cỏ, rác vào ổ đẻ, cào bới ổ, tự nhổ lông bụng và chọn đồ để lót làm ổ ấm rồi mới đẻ con, sau khi đẻ thỏ mẹ phủ lông kín cho đàn con.

8.  Sinh lý cho sữa

Sự tổng hợp sữa ở thỏ phụ thuộc vào hormon prolactin và Lactogenic hormon. Trong giai đoạn có thai Prolactin sẽ bị ức chế bởi estrogen và progesterone. Khi thỏ đẻ một sự hạ thấp mức độ progeterone nhanh trong máu. Oxytocin và prolactin sẽ được tiết tự do và tạo nên sự tổng hợp sữa và thải sữa ra ngoài. Sữa sẽ thải ra như sau: thỏ mẹ vào ổ cho con bú, các kích thích từ sự cho bú sẽ làm cho sự tiết ra oxytocin và như thế sữa sẽ được thải ra cho con bú. Lượng oxytocin tiết ra tỷ lệ thuận với số lần cho con bú, tuy nhiên thỏ mẹ sẽ chủ động số lần cho bú trong ngày. Thường thỏ cái chỉ cho một lần bú trong một ngày. Sự theo bú mẹ sẽ không tạo ra sự tiết oxytocin mà tuỳ theo thỏ mẹ có muốn cho con bú hay không. Sữa thỏ có giá trị dinh dưỡng cao (13%CP) hơn sữa bò, sau khi đẻ 3 tuần sữa thỏ trở nên giàu đạm và mỡ sữa (tăng 20 – 22%). Lượng sữa trong 2 ngày đầu khoảng 30 – 50g sẽ tăng đến 200 – 300g vào tuần lễ thứ 3. Nó sẽ giảm nhanh sau đó đặc biệt là trong trường hợp thỏ có mang.

Bảng 4. Thành phần dưỡng chất của sữa thỏ

Thành phần Sữa thỏ (4 – 21 ngày) Sữa bò
Vật chất khô 26,1 – 26,4 13,0
Protein 13,2 – 137 3,5
Mỡ 9,2 – 9,7 4,0
Khoáng 2,4 – 2,5 0,7
Lactose 0,86 – 0,87 5,0

Comments

comments