Gia súc nhai lại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp toàn cầu do tận dụng hiệu quả các sản phẩm giàu chất xơ của ngành trồng trọt. Chất xơ là chất được tái sinh nhiều nhất trong thiên nhiên. Đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển, chăn nuôi gia súc nhai lại rất dược lưu tâm phát triển do nguồn thức ăn chính của chúng là các phó sản giàu xơ và do sản lượng hạt cốc trên đầu người còn bị giới hạn, ngoài việc cung cấp một nguồn phân bón hữu cơ quí giá cho cho quỹ đất trồng trọt đang bị thoái hóa nhanh chóng. Bảng 1 cho thấy số lượng gia súc nhai lại của toàn cầu và của khu vực các nước đang phát triển.

dê giống

Bảng 1 cho thấy số lượng đàn trầu và bò trên thế giới vẫn phát triển đều đặn từ năm 1992 đến nay, nhưng chủ yếu là ở các nước đang phát triển. Trong khi đó đàn cừu của thế giđi đang giảm dần, nhưng ỏ các nước đang phát

Bảng 1: S lượng gia sức nhai lại qua một số năm (con)

Gia

sức

Khu vực 1992 1995 2000 2001
Trâu Toàn cầu 153.073.696 159.240.650 165.061.734 167.611.168
Đ.P.T 152.600.769 158.748.761 164.489.800 167.035.882
Toàn cẩu 1.302.774.360 1.332.226.820 1.350.595.860 1.360.136.890
Đ.P.T 917.420.667 965.142.625 1.022.434.850 1.032.039.410
Toàn cầu 597.634.625 666.538.550 719.539.594 693.456.713
Đ.P.T 566.025.525 634.535.569 689.376.099 663.600.312
Cừu Toàn cầu 1.161.255.500 1.092.201.880 1.055.631.300 1.059.107.230
Đ.P.T 637.199.186 652.125.939 669.648.247 670.410.860

triển lại gia tăng; có nghĩa là đàn cừu của các nước phát triển đang giảm nhanh. Đàn dê gia tăng nhanh từ năm 1992 đến năm 2000, nhưng sau đó lại giảm, chủ yếu ở các nước đang phát triển. Như vậy ở khu vực các nước đang phát triển, số lượng trâu, bò và cừu đã gia tăng đều và khá nhanh trong thập niên vừa qua nhưng đàn dê có gia tăng nhưng chưa đều, có thời gian bị giảm. Năm 2001, trên thế giới số lượng dê chỉ bằng 65,5% số lượng cừu, nhưng ở các nước đang phát triển thì sô’ lượng hai loại gia súc này gần tương đương nhau. Cũng vào năm này, so với tổng đàn trên thế giới, dàn cừu của các nước đang phát triển chiếm 63,3%; đàn bò là 75,88%; dàn dê là 95,7% và đàn trâu là 99,68%. Như vậy gia súc nhai lại đã giữ một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nguồn đạm động vật cho nhân dân các nước đang phát triển và phó sản là da; đặc biệt là trâu và dê chủ yếu được nuôi ở khu vực các quốc gia đang phát triển.

Bảng 2: Các sản phẩm của gia súc nhai lại trên thế giới nám 2001 (tấn)

Gia súc Sữa Thịt Da tươi
Trâu 66.739.684 3.118.086 819.623
490.783.938 66.869.956 7.329.153
12.345.332 3.734.956 823.225
Cừu 8.040.341 7.611.858 1.608.966

Bảng 2 cho thấy sản lượng sữa dê gấp 1,5 lần sữa cừu, gần 19% sữa trâu, nhưng chiếm 2,13% tổng sản lượng sữa của thế giới năm 2001 là 577.909.295 tấn. Tuy nhiên, về sản lượng thịt và da dê cao hơn các sản phẩm này từ trầu. Thật vậy thịt, sữa và da dê đã có một vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân Phi châu, tiểu lục địa Ấn Độ và vùng Tây Á.

Qua hai bảng 1 và 2 cho thấy gia súc nhai lại; đặc biệt là đê và trâu giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống nông dân ở các nước đang phát triển. Một số khảo sát cho thấy dê cung cấp 20 – 40% thu nhập của người nông dân ở Pakistan. Gần đây vai trò của dê trong đời sống của người dân ở các nước nhiệt đới được thể hiện rõ do các nguyên nhân sau:

-    Dân số đang bùng nổ ở các nước nhiệt đới nên nhu cầu về nguồn đạm động vật đang tăng lên một cách rõ rệt.

-    Nhu cầu này dễ được thỏa mãn bằng cách gia tăng nhanh đàn gia súc nhai lại có khả năng tận dụng chất xơ, không cạnh tranh lương thực với con người để biến thành thịt, sữa cho con người.

-    Như vậy đàn dê được gia tăng một cách dễ dàng hơn trâu, bò do vốn đầu tư thấp nhưng tốc độ sinh sản nhanh hơn nhiều so với trâu bò. Thêm vào đó dễ dàng quản lý đàn.đê bằng nguồn nhân lực của gia đình.

-    Do sinh sản nhanh nên đàn dê có thể được cải thiện năng suất nhanh hơn so với trâu bò qua sự chọn lọc nhất là lai tạo với các Giống cao sản ngoại nhập.

-    Gần đây nhiều nghiên cứu cho thấy sự cải thiện về nuôi dưỡng và quản lý đã cải thiện đáng kể năng suất đàn dê bản xứ, nhất là đối với đàn dê lai cho vùng nhiệt đới.

Với các lý do trên cho thấy sự phát triển đàn dê để sản xuất thịt hay sữa là rất hữu ích cho các nông dân nghèo, không có đất hay diện tích đất canh tác giới hạn; rất khó phát triển đàn bò hay trâu. Thêm vào đó thịt dê có một mùi vị đặc biệt, được ưa thích bởi các dân cư của nhiều nước vùng nhiệt đới.

Thịt dê có ít mỡ hơn thịt bò và cừu và mỡ phân phối đều khắp quày thịt. Thêm vào đó mỡ dê có ít acid béo bão hòa và cholesterol hơn mỡ bò và mỡ cừu. Sữa dê có giá trị dinh dưỡng tương tự như sữa bò nhưng có tỉ lệ các hạt chất béo nhỏ cao hơn sữa bò nên dễ tiêu hóa hơn. Thêm vào đó sữa dê có chứa một số chất chống dị ứng nên có thể sử dụng cho các tạng người dễ bị dị ứng với sữa bò. Do đó ngày càng nhiều người dân Âu, Mỹ lưu tâm đến thịt và sữa dê.

Bảng 3: Số gia sức nhai lại và sản phẩm tại Việt Nam

Gia

Blic

Số lượng gia súc (con) Sản phẩm năm 2001
1992 1995 2000 2001 Thịt

(tâm)

Da

(tấn)

Trâu

2.886.500

3.201.800

312.300

2.962.800

3.638.900

550.500

2.897.220

4.127.800

543.867

2.897.220

4.200.000

600.000

92.450

97.000

4.875

17.200

15.689

812

Đàn dê ở nước ta đã gia tăng nhanh từ năm 1992 đến năm 2001, nhưng có chựng lại vào năm 2000. Tuy nhiên với tổng đàn 600.000 con vào năm 2001 so với 4,2 triệu bò và gần 2,9 triệu trâu nên các sản phẩm từ dê cồn chiếm một vị trí rất khiêm nhường như thịt dê chỉ bằng khoảng hơn 5% so với thịt trâu hay bò. Điều này có lẽ do chăn nuôi dê chỉ mới được lưu tâm phát triển trong thời gian gần đây. Thêm vào đó ở Thuận Hải, nơi có đàn dê lớn nhất miền Nam nhưng người nông dân lại đang có xu hướng phát triển đàn cừu mạnh hơn do cừu có sức sinh trưởng nhanh hơn và chúng gậm cỏ sát hơn dê.

Để góp phần phát triển nhanh về số lượng cũng như cải thiện phẩm chất giống và năng suất của đàn dê qua sự lai tạo hay nhập giống thuần, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu các đặc điểm và tính năng sản xuất của một số Giống dê quan trọng trên thế giới và trong nước.

Comments

comments