1.  Nguồn gốc và phân loại sinh học đối với lợn

Hầu như ai cũng nhận biết được loài vật nuôi này. Ngày nay, lợn đã trở thành vật nuôi quen thuộc với chúng ta. Lợn nhà có nguồn gốc từ lợn rừng, đầu tiên do con người săn bắn và hái lượm, họ bắt được lợn rừng và đem về nuôi, dần dần con người ý thức và lựa chọn những con lợn tốt để nuôi, còn những con kém chất lượng có thể giết thịt nhằm cung cấp thực phẩm. Tổ tiên của lợn chính là lợn rừng, Voncopvialov (1956) cho rằng lợn nhà được tạo ra từ các giống lợn rừng châu Á và châu Âu. Hệ thống phân loại của lợn được sắp xếp theo sơ đồ

Phân loại giống lợn

Lợn
Loài Động vật (Animal)
Ngành Động vật có xương sống (Chordata)
Lớp Động vật có vú (mamalia)
Bộ Guốc chẵn (Artiodactyla)
Họ Lợn (Suidae)
Giống Sus

Các giống lợn được phân thành các giống lợn chính và các giống lợn phụ. Ở rừng châu Á và Âu có tới 4 giống lợn chính và 25 giống lợn phụ. Lợn ngày nay được tạo thành từ 3 giống lợn phụ của châu Á: Sus orientalis, Sus vitatus, Sus crytatus và 1 giống lợn châu Âu Sus crofa. Lợn (Babyrousa), lợn rừng (Hylochoerus) và lợn hoang dã (Sus) là các giống lợn khác nhau ở vùng nhiệt đới và ôn đới. Lợn nước hoặc lợn đầm lầy (Potamochoerus) là giống lợn thích nghi như các động vật sống bán thủy sinh. Giống lợn Phacochoerus là một dạng lợn rừng Savannah.

con lợn

2. Đặc điểm hình thành và phát triển lợn giống

Tất cả các động vật điều là thành viên của giới động vật hay còn gọi là Metazoa. Tất cả động vật có vú thuộc ngành có xương sống, phụ ngành có xương sống (ví dụ: có một xư­ơng sống), nó bao gồm cá, bò sát, lưỡng thê, chim, và động vật có vú. Lợn thuộc về lớp động vật có vú, (động vật có nhau thai). Tất cả động vật có vú đều có ba đặc điểm mà chúng ta không thể tìm thấy ở các động vật khác đó là: 3 xương tai ở giữa; lông và sản xuất sữa bởi hệ thống tiết sữa bằng tuyến, còn được gọi là tuyến vú.

Lợn thuộc vào thứ có guốc. Cái tên móng guốc liên quan đến động vật có vú có móng, nó tương tự nhưng không nhất thiết quan hệ gần gũi với phân loại. Hiện tại thì động vật đã được chia thành nhiều thứ: Guốc lẻ (bao gồm ngựa, ngựa vằn và tê giác) và Guốc chẳn (bao gồm lạc đà, bò, nai, dê, lợn và cừu).

Họ lợn bao gồm lợn, cả lợn cỏ pê-ca-ri và lợn nước. Mặc dầu chúng ta không được biết đầy đủ về nguồn gốc của lợn ở vùng Mỹ-La-Tinh nhưng nó lại thể hiện tốt ở các lục địa khác của của thế giới (Châu Phi, Châu Á, châu Âu). Tuy nhiên, con người đã nhập chủng Sus scrofa (có nguồn gốc từ lợn rừng châu Âu), đây là giống mà lợn ngày nay được thuần hoá, chúng đến rất nhiều nơi trên thế giới như Bắc Mỹ, New Guinea, Úc và New Zealand. Họ lợn bao gồm 3 họ phụ (Phacochoerinae warthogs, Suinae, Babyrouinae), cỏ chủng lợn (Sus) trong đỏ cỏ 25 giống phụ và 4 giống chính. Cỏ 4 giống phụ trong 25 giống phụ đã được thuần hỏa và đưa vào sử dụng hiện nay cho ta thấy mối quan hệ họ hàng và nguồn gốc chung của các loại giống lợn trên thế giới.

Chức năng các cơ quan bộ phận của các loại lợn khác nhau cũng khác nhau tùy theo điều kiện sinh tồn của chúng. Kích cỡ và hình dạng của lợn cũng thay đổi khác nhau tùy theo từng giống. Đầu và toàn thân cỏ thể dài 190­500 mm, đuôi dài khoảng 35-450 mm, lợn trưởng thành cỏ thể nặng 350 kg. Đặc điểm ngoại hình của lợn cũng khác nhau tùy theo đặc trưng của từng giống. Xem xét về khảo cỏ học, xương và hộp sọ của lợn cỏ những nét đặc trưng riêng biệt của các giống khác nhau, tuy nhiên chúng cỏ đặc điểm chung ở hình 2.1. Mắt của lợn thường là nhỏ và nằm cao trên hộp sọ. Tai của lợn khá dài và rủ xuống, với một núm lông nằm gần đầu mút. Hộp sọ thường dài và cỏ một điểm chẩm khá bằng phẳng. Một trong những điểm đáng chú ý nhất của lợn là cỏ mũi linh động và nỏ cỏ một sụn tại chỏp đỉnh. Và nỏ được nâng đỡ bởi một xương mũi nằm dưới mũi. Hộp sọ cỏ một điểm nhô ở chỏm, nỏ được hình thành từ xương supraoccipital và xương đỉnh. Cả 4 ngỏn chân của lợn đều cỏ mỏng, nhưng nỏ chỉ thể hiện chức năng trong vận động ở các ngỏn giữa (thứ ba và thứ tư), bởi vì các ngỏn bên nhỏ hơn và định vị cao hơn ở đùi. Công thức răng là khác nhau giữa các loại giống lợn, một công thức tổng quát cho giống là lợn: 1-3/3, 1/1, 2-4/2 hoặc 4, 3/3 = 34 – 44. Răng cửa phía trên cỏ kích cỡ giảm theo một chiều, răng cửa phía dưới dài, hẹp và định vị tại một gỏc thấp trong hàm do vậy nỏ gần như nằm theo chiều trục hoành. Răng nanh phía trên mọc ra ngoài và cong lại; tiếp giáp giữa răng nanh trên và răng nanh dưới tạo thành các gỏc cạnh sắc. Răng nanh trên luôn luôn dài ra, răng cửa cỏ đầu nhọn.

Comments

comments